Vùng đất nay là phường Bình Lợi Trung thuộc đất Gia Định từ khi chúa Nguyễn lập phủ Gia Định năm 1698. Đây là dải đất ven sông Sài Gòn ở phía bắc trung tâm hành chính Gia Định xưa, nơi dân khẩn hoang lập làng, làm ruộng, làm vườn, đi lại bằng ghe xuồng trên sông rạch. Qua thời Gia Định thành, tỉnh Gia Định triều Minh Mạng rồi thời Pháp chiếm đóng, vùng này luôn là đất làng ven đô, chưa thành phố.
Tư liệu viết riêng về mạn bắc Bình Thạnh thời xưa rất ít; phần lớn những gì biết được là bức tranh chung của vùng Gia Định, cộng với vài dấu vết địa danh còn lại. Bài này dựng lại bức tranh ấy theo các mốc lớn, chỉ ra nguồn tư liệu gốc có thể tìm đọc, và nói rõ chỗ nào là suy luận từ bối cảnh chung.
Năm 1698: phủ Gia Định và dinh Phiên Trấn
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược phương Nam, lập phủ Gia Định với hai dinh: Trấn Biên ở vùng Biên Hòa và Phiên Trấn ở vùng Sài Gòn. Vùng đất hai bên sông Sài Gòn phía bắc Bến Nghé thuộc phạm vi dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình. Đây là mốc được coi là khởi đầu của bộ máy hành chính người Việt ở vùng Sài Gòn – Gia Định.
Trước và quanh mốc đó, người Việt đã có mặt rải rác ở vùng này, sống xen với các cộng đồng khác. Việc lập phủ không tạo ra dân cư từ con số không, mà ghi sổ, chia đơn vị, thu thuế và bảo hộ cho những xóm làng đã hình thành, đồng thời mở đường cho các đợt di dân tiếp theo từ miền Trung.
Với vùng ven sông phía bắc, lợi thế tự nhiên là rõ: có sông lớn để đi lại và lấy nước, có đất phù sa để làm ruộng, có các giồng đất cao hơn để dựng nhà, trồng cây ăn trái. Những làng mang tên chữ như Bình Hòa, Bình Lợi, Bình Quới, Thạnh Mỹ dần xuất hiện trên vùng đất này trong các thế kỷ sau.
Làng ven sông sống ra sao
Người khẩn hoang ở vùng ven sông Sài Gòn chủ yếu làm ruộng lúa trên đất thấp, làm vườn trên đất cao, đánh bắt cá tôm, chèo ghe chở hàng. Hệ thống rạch nhỏ len vào sâu trong đất vừa là đường tưới tiêu vừa là đường giao thông. Nhịp nước lớn nước ròng của sông Sài Gòn chi phối giờ giấc ra đồng, giờ chở hàng, giờ đi chợ.
Trung tâm của mỗi làng là ngôi đình, nơi thờ thần hoàng, họp việc làng và tổ chức lễ cúng hằng năm. Chợ làng họp ở ngã ba sông rạch hay chỗ đường bộ gặp đường thuỷ. Nhà cửa dựng theo các giồng đất cao, quay mặt ra rạch hoặc đường làng. Đây là mô hình chung của làng Nam Bộ; chi tiết về từng làng cụ thể trong vùng Bình Lợi Trung cần đối chiếu với địa bạ và tư liệu địa phương.
Một điểm cần lưu ý: những con đường cong theo bờ rạch, bờ ruộng của làng xưa đôi khi còn để lại dấu vết trong hình dạng các con hẻm hôm nay. Đó là nhận xét phổ biến về đô thị Sài Gòn nói chung. Nếu muốn khẳng định cho một con hẻm cụ thể, cần đặt bản đồ cũ cạnh bản đồ mới mà so, chứ không thể chỉ nhìn đường cong mà đoán.
Thời Gia Định thành và những người viết về đất Gia Định
Đầu thế kỷ 19, dưới triều Gia Long, Gia Định trở thành Gia Định thành, một đơn vị lớn cai quản cả vùng đất phương Nam, đứng đầu là các quan Tổng trấn. Lê Văn Duyệt, vị Tổng trấn nổi tiếng nhất, có lăng mộ ở Bà Chiểu, nay thuộc phường Gia Định, láng giềng phía nam của Bình Lợi Trung. Người dân trong vùng vẫn gọi nơi đó là Lăng Ông.
Cũng thời kỳ này, đất Gia Định có những trí thức để lại tư liệu quý. Trịnh Hoài Đức soạn Gia Định thành thông chí, bộ sách mô tả núi sông, phong tục, sản vật của vùng. Lê Quang Định soạn Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, bộ địa chí về đường sá, trạm dịch. Hai ông cùng Ngô Nhân Tịnh được gọi là Gia Định tam gia. Đây là những nguồn gốc nên đọc khi muốn hiểu Gia Định thời đó.
Các bộ sách này mô tả vùng Gia Định ở cấp độ rộng; hiếm khi chúng đi vào chi tiết từng làng ven sông phía bắc. Người tìm hiểu về Bình Lợi Trung xưa sẽ thấy bức tranh chung về khí hậu, sông nước, nghề nghiệp, phong tục hơn là tên tuổi cụ thể của làng mình. Vì vậy cần đọc kèm các nguồn hành chính như địa bạ.
Năm 1832 và địa bạ năm 1836
Năm 1832, vua Minh Mạng bãi Gia Định thành, chia đất phương Nam thành sáu tỉnh, quen gọi là Nam Kỳ lục tỉnh. Tỉnh Gia Định là một trong sáu tỉnh đó, và vùng ven sông phía bắc thuộc về tỉnh này. Cơ cấu hành chính thời đó gồm tỉnh, phủ, huyện, tổng, làng; mỗi làng có tên chữ, có ranh, có sổ sách ruộng đất.
Năm 1836, triều Nguyễn tiến hành đo đạc và lập địa bạ cho các làng ở Nam Kỳ. Bộ địa bạ này ghi tên làng, tổng, diện tích ruộng đất, loại đất, chủ sở hữu, và là nguồn tư liệu quan trọng bậc nhất để biết làng nào có mặt ở đâu vào thời điểm đó. Các nhà nghiên cứu đã khai thác và công bố nhiều phần của bộ tư liệu này.
Nếu muốn biết làng Bình Lợi Trung xưa thuộc tổng nào, có bao nhiêu ruộng, giáp những làng nào, địa bạ năm 1836 và các công trình nghiên cứu dựa trên nó là nơi nên tìm. Trang này không chép lại số liệu từ địa bạ vì chưa đối chiếu được với bản gốc; những con số lan truyền không kèm nguồn nên đọc với sự dè dặt.
Khi người Pháp đến: thành Gia Định thất thủ và làng xã đổi khác
Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Đến năm 1862, triều Nguyễn ký hoà ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, trong đó có Gia Định. Vùng ven sông phía bắc vì thế sớm nằm dưới quyền cai trị của Pháp, sớm hơn nhiều vùng khác của đất nước.
Người Pháp giữ lại cấp làng nhưng sắp xếp lại nhiều lần: nhập làng nhỏ, chia tổng, đặt các đơn vị hành chính kiểu mới. Tên làng chữ Hán Việt vẫn được dùng, nhưng nhiều làng nhỏ biến mất vào làng lớn. Đây có thể là bối cảnh khiến những làng như Bình Lợi Trung dần rút khỏi giấy tờ, dù chi tiết cụ thể cần tra hồ sơ hành chính thời Pháp.
Cuối thế kỷ 19, Sài Gòn phát triển thành đô thị kiểu Pháp ở phía nam, còn vùng Gia Định ở phía bắc vẫn là nông thôn ven đô. Ranh giới ấy kéo dài sang tận thế kỷ 20 và chỉ mờ dần khi thành phố mở rộng, như được kể trong bài về lịch sử quận Bình Thạnh cũ trên trang.
Đất Gia Định xưa còn lại gì quanh Bình Lợi Trung hôm nay
Đứng giữa phường hôm nay, giữa nhà ống và đường lớn, khó hình dung được làng ven sông thế kỷ 19. Nhưng vài thứ của đất Gia Định xưa vẫn còn đó. Thứ bền nhất là con sông Sài Gòn: dòng chảy, khúc quanh, nhịp nước lớn nước ròng mà người khẩn hoang từng dựa vào vẫn chi phối đời sống phường, từ những ngày triều cường tới cảnh quan bờ sông.
Thứ hai là cái tên. Chữ Bình Lợi đi qua triều Nguyễn, thời Pháp, nửa thế kỷ phường số, rồi trở lại trên con dấu của phường mới. Cùng với nó là những tên đất láng giềng cùng lớp như Bình Quới, Thạnh Mỹ Tây, Gia Định, nay cũng thành tên phường. Đọc năm cái tên của vùng Bình Thạnh cũ là đọc một phần bản đồ làng xã Gia Định xưa.
Thứ ba là dấu vết trong địa hình và sinh hoạt: vài con rạch còn sót, những khoảnh đất cao thấp khác nhau mà người dân nhận ra mỗi mùa mưa, những ngôi miếu nhỏ, thói quen cúng đình, giỗ chạp của các gia đình gốc. Những dấu vết này không đủ để dựng lại làng xưa, nhưng đủ để nhắc rằng phường hôm nay đứng trên một vùng đất có tuổi đời hơn ba trăm năm.
Mốc lớn của đất Gia Định liên quan tới vùng Bình Lợi Trung
Bảng dưới đây chỉ ghi những mốc đã được ghi nhận rộng rãi trong sử sách. Phần ý nghĩa với vùng ven sông phía bắc là diễn giải từ bối cảnh chung:
| Năm | Sự kiện | Ý nghĩa với vùng ven sông phía bắc |
|---|---|---|
| 1698 | Lập phủ Gia Định, dinh Phiên Trấn | Vùng đất vào sổ bộ, làng xã dần được ghi tên |
| Đầu thế kỷ 19 | Gia Định thành dưới triều Gia Long | Trung tâm hành chính gần Bà Chiểu, vùng ven sông là đất làng phụ cận |
| 1832 | Bãi Gia Định thành, lập sáu tỉnh | Vùng thuộc tỉnh Gia Định |
| 1836 | Lập địa bạ Nam Kỳ | Nguồn tư liệu gốc về tên làng, ruộng đất |
| 1859–1862 | Pháp chiếm thành Gia Định, ba tỉnh miền Đông bị nhượng | Làng xã được sắp lại dưới chính quyền thuộc địa |
Đọc bảng này cùng dòng thời gian ở bài về quận Bình Thạnh cũ sẽ thấy trọn vẹn hơn ba thế kỷ của vùng đất. Mỗi mốc đều có tư liệu gốc để tra, và người muốn viết sâu nên bắt đầu từ đó thay vì từ các bài tổng hợp.
Đọc gì để tìm hiểu thêm
Nếu muốn tự tìm hiểu kỹ về đất Gia Định xưa và vùng ven sông phía bắc, đây là những loại nguồn đáng tin, xếp theo mức độ gần với gốc:
- Sách địa chí cổ như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, đọc qua các bản dịch đã xuất bản.
- Địa bạ triều Nguyễn năm 1836 và các công trình nghiên cứu dựa trên bộ địa bạ này.
- Hồ sơ hành chính thời Pháp lưu ở các trung tâm lưu trữ quốc gia, nhất là hồ sơ về tỉnh Gia Định.
- Các bộ địa chí hiện đại về TP Hồ Chí Minh và về từng quận, do cơ quan nhà nước hoặc nhà xuất bản uy tín ấn hành.
- Tác phẩm của các nhà biên khảo về Sài Gòn – Gia Định, đọc như nguồn tham khảo có chú thích.
- Lời kể của người cao tuổi và ban quản lý đình miếu trong vùng, ghi chép cẩn thận và ghi rõ là lời kể.
Nguyên tắc chung: càng gần nguồn gốc càng đáng tin. Một bài mạng chép lại từ một bài khác, không ghi tác giả hay sách gốc, nên chỉ được coi là manh mối.
Câu hỏi thường gặp
Phủ Gia Định được lập năm nào?
Phủ Gia Định được lập năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược phương Nam theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu. Phủ gồm hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn. Vùng ven sông Sài Gòn phía bắc Bến Nghé, trong đó có đất Bình Lợi Trung hôm nay, thuộc phạm vi dinh Phiên Trấn.
Gia Định tam gia là ai?
Gia Định tam gia là cách gọi ba nhà thơ, nhà trí thức đất Gia Định cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh. Họ để lại thơ văn và sách địa chí quý, trong đó Gia Định thành thông chí là nguồn quan trọng về vùng đất này.
Lăng Ông Bà Chiểu có thuộc phường Bình Lợi Trung không?
Không. Lăng Ông, nơi an táng Tả quân Lê Văn Duyệt, nằm ở khu Bà Chiểu, nay thuộc phường Gia Định, láng giềng phía nam của Bình Lợi Trung. Người dân Bình Lợi Trung vẫn hay đến thăm, nhưng khi giới thiệu về phường thì không nên nhận di tích này là của phường mình.
Địa bạ năm 1836 có ghi làng Bình Lợi Trung không?
Bộ địa bạ Nam Kỳ năm 1836 ghi tên các làng thuộc tỉnh Gia Định thời đó. Trang này chưa đối chiếu trực tiếp với bản gốc nên không khẳng định chi tiết. Người quan tâm nên tìm các công trình nghiên cứu đã công bố về địa bạ tỉnh Gia Định để tra cụ thể.
Thời xưa người ở vùng này làm nghề gì?
Theo bức tranh chung của làng ven sông Sài Gòn, người dân chủ yếu làm ruộng lúa trên đất thấp, làm vườn cây ăn trái trên giồng cao, đánh bắt thuỷ sản và chở hàng bằng ghe. Một số người buôn bán, làm thuê ở khu trung tâm Gia Định và Sài Gòn gần đó.
Vì sao vùng này sớm thuộc Pháp hơn nhiều nơi khác?
Vì tỉnh Gia Định là một trong ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị nhượng cho Pháp theo hoà ước năm 1862, sau khi thành Gia Định thất thủ năm 1859. Các tỉnh miền Tây Nam Kỳ bị chiếm muộn hơn, còn miền Trung và miền Bắc thì phải nhiều năm sau nữa.